Điểm du lịch làng cổ Phước Tích

Điểm du lịch làng cổ Phước Tích

Làng Phước Tích thuộc xã Phong Hòa, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế nay là xã Phong Dinh, thành phố Huế là một trong những ngôi làng hình thành từ lâu đời (thế kỷ XV). Làng Phước Tích nằm ở phía Bắc của thành phố Huế, giáp với huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị cũ

Làng Phước Tích thuộc xã Phong Hòa, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế nay là xã Phong Dinh, thành phố Huế là một trong những ngôi làng hình thành từ lâu đời (thế kỷ XV). Làng Phước Tích nằm ở phía Bắc của thành phố Huế, giáp với huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị cũ. Theo truyền ngôn cũng như gia phả các dòng họ trong làng ghi lại: Các vị thủy tổ, trong đó có ngài Hoàng Minh Hùng, gốc Cảm Quyết, Quỳnh Lưu, Nghệ An, theo Lê Thánh Tông bình Chiêm vào năm 1470. Sau cuộc Nam chinh đại thắng, ngài Hoàng Minh Hùng đã cùng các dòng họ chiếm cứ đất Cồn Dương và mở mang nghề gốm. Ngài Hùng Minh hầu, tức thủy tổ Hoàng Minh Hùng được phong làm khai canh của làng. Hiện nay, hai ngôi miếu (miếu đôi) của làng chính là thờ ngài Khai canh Hoàng Minh Hùng và ngài Bổn nghệ (Tổ nghề gốm).

Việc lập làng, mở nghề làm gốm ở Phước Tích gắn với sự tích ngài khai canh được gia phả các dòng họ ở làng, đặc biệt là gia phả họ Hoàng ghi như sau: “Đệ tứ thế hiển sơ thủy tổ, bổn thổ khai canh, Đặc tấn phụ quốc thượng tướng quân Cẩm Y Vệ, đô chỉ huy sứ ty, chỉ huy sứ quản tri phó tướng Hùng Minh Hầu, sắc phong Dực bảo trung hưng linh phò tôn thần Hoàng Minh Hùng quý công.

Ngài tên Hùng, tục danh Nồi, con thứ tư ngài Thế Lộc Bá sinh ngày 3 tháng 8, mất ngày 5 tháng 11, năm không rõ, mộ tại xứ Mèo Lang, làng Mỹ Xuyên, huyện Phong Điền tỉnh Thừa Thiên trở mặt về phía khu vực Bá Đa, tục gọi Đá Giăng sông Ô Lâu. Sinh tiền trong niên hiệu Hồng Đức ngài tùng chinh đánh Chiêm Thành, đến trú tại đất Hóa Châu, ngài đi xem xét địa hình từ Khe Trăn xuống tới Khe Trái theo nguồn Ô Lâu đi dần xuống tới Cồn Dương, xem được, ngài chiêu tập nhân dân canh khẩn, lập thành xã ấp lại bao chiếm nhiều địa phận: Câu Nhi, Hội Kỳ, Mỹ Chánh, Huỳnh Liên để lấy vật liệu mở lò gốm. Sau khi ngài mất, làng tôn ngài là bổn thổ khai canh, dựng miếu thờ, hằng năm hễ đến ngày 3 tháng giêng làm lễ minh niên, ngày 3 tháng 8 làm lễ tảo mộ, ngày 5 tháng 11 làm lễ kỵ”. Ngài được vua Duy Tân năm thứ 7 (1923) ban sắc phong: “Bổn thổ khai canh Hùng Minh Hầu Dực Bảo Trung Hưng Linh Phò Tôn Thần Hoàng Quý Công - Đặc tấn phụ Quốc thượng tướng quân Cẩm Y Vệ - Quản Tri phó tướng”. Lăng mộ ngài khai canh Hoàng Minh Hùng hiện nằm ở xứ Mèo Lang (thuộc làng Mỹ Xuyên).

Sau khi chiến thắng quân Chiêm, Hoàng Minh Hùng đã ở lại Thuận Hóa, chiêu mộ thêm người vào vùng đất này khai hoang lập ấp, những vị này đã trở thành thuỷ tổ của các họ Lê Ngọc, Lê Trọng (ngài Lê Trọng Yên), Lương Thanh, Nguyễn Bá (ngài Nguyễn Trại), Nguyễn Duy, Nguyễn Phước (ngài Nguyễn Phước Đỗ), Phan, Trần (ngài Trần Công Lĩnh) và họ Trương (thập nhất tôn phái). Sau này, làng Phước Tích phát triển thêm năm họ nữa là: Lê Văn, Lương Vĩnh, Nguyễn Đình, Lâm, Hoàng Văn. Hiện nay, tại làng Phước Tích vẫn còn lập miếu thờ ngài khai canh họ Hoàng, văn tế làng xướng tên ngài đầu tiên, các vua triều Nguyễn đã sắc phong “tiền khai canh Hoàng quý công...tôn thần”. Còn các họ khác (11 họ) được sắc phong là tiền khai khẩn.

 Sách Ô châu cận lục của Dương Văn An viết 1553, đã ghi lại danh mục 180 làng thuộc ba huyện Kim Trà, Đan Điền và Tư Vinh của Hoá châu lúc bấy giờ, trong đó có tên làng Cảm Quyết ( ) nằm trong số 60 làng của huyện Kim Trà. Vậy có thể khẳng định, làng Phước Tích ra đời trong trong khoảng thời kỳ cuối thế kỷ XV.  Sách Ô châu cận lục cũng ghi “Đồ đất nung ở Dõng Cảm, Dõng Quyết mối lợi không ngờ”. Dõng Cảm là tên gọi của làng Mỹ Xuyên, Dõng Quyết là tên gọi của làng Phước Tích. Có lẽ Dõng Cảm, Dõng Quyết bắt nguồn từ tên gốc của làng Cảm Quyết, vì xưa kia Mỹ Xuyên (giáp với Phước Tích) cũng có nghề làm gốm.

Để nhớ về nguồn cội, ngài Hoàng Minh Hùng và các ngài khai khẩn đã đặt tên cho quê hương thứ hai của mình là Cảm Quyết, thuộc huyện Kim Trà, châu Hóa, thừa tuyên Thuận Hoá.

Tên làng Cảm Quyết dưới thời chúa Nguyễn được đổi thành Phước Giang, đến thời Tây Sơn, đổi lại là Hoàng Giang, cho đến đầu triều Gia Long đổi lại thành Phước Tích và tên gọi này tồn tại cho đến nay. Làng Phước Tích còn có tên nôm xưa là “Kẻ Đôộc”, hay là làng “Đôộc Đôộc” chuyên làm làm các sản phẩm gia dụng bằng đất nung như: om, nồi, hủ, đột…

Làng Phước Tích trước đây chia làm ba xóm, gọi là Tam Hòa: Thượng Hòa (xóm Ngoài), Trung Hòa (xóm Giữa) và Hạ Hòa (xóm Dưới), sau đổi làm hai phe gọi là Nhị Giáp: Đông giáp (phe Đông) và Tây giáp (phe Tây). Hiện nay, làng Phước Tích có các xóm: Xóm Xuân Viên (xóm Hội), xóm Cừa, xóm Cây Thị, xóm Đình và xóm Cầu.

Từ năm 1835, làng Phước Tích thuộc tổng Phò Trạch, huyện Phong Điền. Từ năm 1945 đến năm 1957, thuộc xã Phong Dinh (sau là Phong Lâu). Từ 1958, thuộc xã Phong Hòa, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế. Sau 1976, làng Phước Tích thuộc xã Phong Hòa, huyện Hương Điền, tỉnh Bình Trị Thiên. Từ năm 1990 đến nay, trở lại thuộc xã Phong Hòa, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế và từ ngày 01/7/2025 thuộc xã Phong Dinh, thành phố Huế theo Đề án sắp xếp, tổ chức lại đơn vị hành chính các cấp và xây dựng mô hình tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp của Chính Phủ.

Từ buổi đầu thành lập, Phước Tích đã nổi tiếng với nghề làm gốm. Sách Ô Châu cận lục viết vào năm 1553 đã từng ghi nhận: “Đồ đất nung ở Dõng Cảm, Dõng Quyết mối lợi không ngờ”. Dõng Cảm là tên gọi của làng Mỹ Xuyên, Dõng quyết là tên gọi của làng Phước Tích. Cả hai làng đều nằm bên bờ sông Ô Lâu và có chung ranh giới là đường Thiên lý. Như vậy từ thế kỷ XV, XVI, ở vùng đất này đã tồn tại hai làng làm nghề gốm là Dõng Cảm và Dõng Quyết, tức là làng Phước Tích và Mỹ Xuyên. Nhưng về sau này chỉ còn làng Phước Tích làm nghề gốm. Còn làng Mỹ Xuyên lại được biết đến bởi nghề điêu khắc gỗ truyền thống nổi tiếng. Các khu lò sản xuất gốm nằm ở vị trí khá thuận lợi, ngay bên bờ sông Ô Lâu, và tuyến đường Thiên Lý. Vì vậy sản phẩm gốm có thể đưa đi tiêu thụ bằng cả đường thủy lẫn đường bộ. Song chuyên chở gốm bằng đường thủy là điều kiện tối ưu để đưa sản phẩm đến nhiều nơi của vùng Thuận Hóa. Thông qua cảng Thanh Hà, gốm đã được đưa đi các nơi xa hơn ở các vùng trong nước và ra cả nước ngoài. Gốm Phước Tích vẫn gìn giữ được những giá trị di sản văn hoá quí báu của một làng nghề gốm nổi tiếng tự bao đời.

Tham quan nhà rường cổ tại làng Phước Tích:

Nét đặc trưng chủ yếu và cũng là nét đặc sắc nhất của làng là quy hoạch không gian kiến trúc, được tổ hợp bằng các nhà vườn truyền thống, bố cục theo ba xóm gắn bó với nhau. Hệ thống đường sá, cây xanh nối liền với nhau một cách tự nhiên và sinh động của một vùng sinh thái độc đáo, kết hợp hài hòa giữa trời, đất và con người. Giữa các khuôn viên của ngôi nhà không ngăn cách bởi hàng rào cao cổng kín tường mà bằng các hàng rào hở với cây chè tàu, uốn lượn theo trục đường làng, ngõ xóm dẫn lối đi vào từng nhà. Tất cả tạo nên sự hấp dẫn kỳ lạ đối với môi trường sinh sống làm cho con người gắn bó với cảnh quan thiên nhiên. Ðiều đó vừa chứa đựng triết lý nhân văn sâu sắc vừa mang tính sáng tạo độc đáo của con người, nhằm tổ chức một không gian sống lý tưởng cho cộng đồng cư dân từ thời xa xưa còn tồn tại đến ngày nay.

Về quỹ kiến trúc, cho đến nay, làng Phước Tích còn lưu trữ như một bảo tàng về di sản văn hóa vật thể cổ tích của một làng quê, bao gồm 27 ngôi nhà rường và 17 nhà thờ họ. Các ngôi nhà cổ ở Phước Tích có hai loại: nhà 3 gian 2 chái và 1 gian 2 chái với kiến trúc truyền thống có niên đại trên 150 năm, phản ánh sự giao thoa giữa kiến trúc dân gian và kiến trúc cung đình Huế. Còn về nội thất, bao gồm bàn ghế, trường kỷ, bộ ngựa (phản), tủ hòm, bàn thờ, hoành phi, câu đối cùng với tranh ảnh... trở thành bảo tàng của từng gia đình, dòng họ. Mặt khác, do ở cạnh làng nghề mộc Mỹ Xuyên, nên Phước Tích được thừa hưởng nghệ thuật độc đáo của điêu khắc kiến trúc, chạm trổ trên các bộ khung gỗ của ngôi nhà, càng làm đậm nét tính chất dân gian mang đầy đủ bản sắc. Trong 17 nhà thờ họ của làng, có 10 nhà thờ được xếp vào nhà rường cổ 3 gian 2 chái. Mỗi nhà thờ họ đều lưu giữ gia phả, hương án, mộc chủ của dòng họ mình cùng với hoành phi câu đối sơn son thếp vàng.

 Di sản văn hoá làng nghề gốm Phước Tích không chỉ là hệ thống các di tích lịch sử, công trình kiến trúc mà trong lòng nó còn có nghề gốm truyền thống của tổ tiên để lại từ thời mở đất lập làng hơn 500 năm trước. Tri thức dân gian của làng nghề vẫn được thế hệ cháu con gìn giữ cho đến tận ngày nay. Chính sản phẩm của làng nghề gốm đã góp phần hình thành nên giá trị văn hoá tinh thần của người dân làng Phước Tích. Bên cạnh việc bảo tồn và phát huy những giá trị văn hoá vật thể làng cổ Phước Tích, được sự hỗ trợ của các cấp chính quyền, các làng nghề gốm trong cả nước, thời gian qua, người dân ở đây đang từng bước khôi phục làng nghề theo hướng vừa tiếp tục phát huy tri thức dân gian truyền thống, vừa tiếp thu công nghệ mới để sản xuất dòng gốm mỹ nghệ, sử dụng khí đốt để nung gốm, nhằm bảo vệ môi trường di sản làng cổ, đồng thời mang lại thu nhập ổn định cho người dân.

Phước Tích là một làng có truyền thống hiếu học. Dưới thời phong kiến, tuy không có người đỗ đạt cao (Tiến sĩ, phó bảng) nhưng lại có nhiều người đổ tú tài và cử nhân. Dân làng Phước Tích thường tự hào về sự đỗ đạt của con dân trong làng: “Tú tài lấy triêng mà gạt, cử nhân lấy trạc mà khiêng”.

Ngày xưa làng Phước Tích có hai ngôi đình: đình Đại và đình Trung. Đình Đại nằm ở gần Quốc lộ 49 (đoạn qua làng Phước Tích) có quy mô lớn, gần với các công trình Chùa làng, Văn Thánh, Miếu Đôi...là nơi thờ các ngài khai canh, khai khẩn và để đồ tế lễ của làng. Đình Trung có quy mô nhỏ hơn đình Đại, nằm ở xóm Trung Hòa (xóm Đình) là nơi thờ các bậc tiền bối và nơi sinh hoạt, hội họp của dân làng. Năm 1878, một cơn hỏa hoạn lớn đã thiêu cháy cả hai ngôi đình, dân làng Phước Tích đã xây dựng lại đình Trung, đặt làm đình chính của làng và chuyển đồ thờ tự ở đình Đại sang đình Trung. Năm 1947, giặc Pháp đốt cháy đình làng. Vào các năm 1962, 1999, đình được tái thiết lại trên nền móng của ngôi đình cũ, nhưng quy mô nhỏ hơn.

Đình làng Phước Tích hiện nay nằm ở vị trí trung tâm của làng, mặt quay về hướng tây nam, trước mặt là dòng sông Ô Lâu; gồm các công trình chính: tường thành, trụ biểu, bình phong và đại đình.

Trong đình có dựng 3 tấm bia đá với nội dung ca ngợi công đức của 3 phụ nữ trong làng có tinh thần tương thân tương ái, giúp đỡ người làng khi khó khăn đói kém, giúp lương thực cho dân phu làm đường... Nhằm ghi nhớ công ơn cao cả ấy, người dân đã nhờ các vị văn quan viết bài văn khắc vào bia đá dựng ở làng để truyền tiếng tốt muôn đời. 

Tấm bia thứ nhất: Dựng bên tả, ghi ơn bà Hồ Thị Quỳnh (vợ của thí sinh Lê Trọng Bình) đã cấp cho dân phu đi làm đường một nghìn quan tiền, 300 hộc lúa. Bài văn bia này do Thự tuần phủ lãnh bố chánh Trần Tử Nông soạn ngày 9 tháng 11 năm Thành Thái thứ 9 (1897).

Tấm bia thứ hai: Dựng phía bên hữu, ghi ơn của bà Lương Thị Dao (vợ của thí sinh Hồ Văn Hoán) đã giúp cho dân làng gặp đói kém do mất mùa, hỏa hoạn  400 quan tiền, 120 hộc lúa. Bài văn bia này do Tiến sĩ Nguyên Thượng Hiền, tự Đỉnh Thần soạn ngày mồng 1 tháng 2 năm Thành Thái thứ 10 (1898).

Tấm bia thứ ba: Dựng phía bên tả, nằm ngoài tấm bia thứ nhất, ghi ơn bà Lương Thị Toại (vợ của thí sinh Nguyễn Văn Tuyển) đã gúp dân làng 400 quan tiền, 45 hộc lúa trong nạn đói năm Đinh Dậu (1897). Bài văn bia này do Nguyễn Uyên Ngu, một người trong phủ Tuy An quận công soạn ngày mồng 1 tháng 2 năm Thành Thái thứ 10 (1898).

Miếu nằm ở xóm Trung Hòa, dưới tán của một cây thị cổ, nên nhân dân trong làng gọi là miếu Cây Thị. Theo các cụ cao niên trong làng cho biết: trước khi  tổ tiên của họ đến khai phá xứ Cồn Dương lập ra làng Phước Tích (vào năm 1470) thì ngôi miếu và cây thị đã có mặt tại đây, như vậy miếu Cây Thị đã ra đời cách ngày nay hơn 500 năm. Phía trước miếu có khắc 3 chữ  Hán “Hiển Linh Miếu” bằng lối đại triện. Tường miếu bên trong có khắc một chữ Thọ theo lối đại tự. Miếu không ghi niên đại xây dựng mà chỉ ghi thời điểm trùng tu: “Tự Đức Tân Tỵ trọng xuân thượng hoán”, có nghĩa là miếu từng được trùng tu vào thượng tuần tháng hai, năm Tân Tỵ dưới thời vua Tự Đức (1881). Miếu được xây bằng gạch vồ, có tường bao quanh. Phía trước miếu có bình phong trang trí hình chim phụng, hai bên cửa có vòm để đi vào, trên các trụ cổng còn lại dấu tích của một số câu đối xưa bằng chữ Hán ghép bằng sành sứ, nhưng lâu ngày chữ bị bong tróc, không đọc được. Qua khảo sát thực địa, có thể thấy rằng ngôi miếu này được dựng trên nền của một đền thờ nữ thần của người Chăm xưa. Hàng năm nhân dân làng Phước Tích lấy ngày xuân tế (16 tháng giêng âm lịch) để tổ chức việc cúng tế tại miếu.

Cây thị ở miếu cũng được dân làng xem là “mộc thần” tức là vị thần cây thường xuyên phù hộ che chỡ cho dân làng.

Miếu Quảng Tế còn gọi là miếu Dương phu nhân hay miếu Bà Dàng (Tiếng Chăm: Yang: thần), nằm ở trung tâm làng (gần khu lò gốm hiện nay). Miếu được lập trên nền của một đền thờ cổ của người Chăm, nơi đây hiện còn dấu vết gạch nung. Bình phong miếu có đắp nổi hình chim phụng (biểu tượng nữ thần). Trước miếu có một bệ Yony ba tầng, là di vật của văn hoá Champa; xung quanh khu vực miếu còn rải rác một số hiện vật kiến trúc đền tháp như bậc cửa, cột đá...Phần trên, phía trước có đắp hai chữ Hán “Quảng Tế” (tế độ rộng khắp).

Trên đường làng thỉnh thoảng du khách sẽ gặp các phù điêu bằng đá, nhô lên một phần ở đây đó ven đường làng, cũng là di vật Champa.

Trải qua hàng trăm năm lịch sử, với thiên tai, chiến tranh và những biến cố trong đời sống của vùng nông thôn, làng cổ Phước Tích vẫn tồn tại hầu như còn nguyên vẹn và hoàn chỉnh trong một tổng thể thống nhất. Phước Tích hiện còn giữ lại khá nhiều dấu tích là vật chứng, xác minh cho chặng đường lịch sử thăng trầm từ khi thành lập cho đến hôm nay. Ðến Phước Tích, du khách vẫn dễ dàng nhận thấy mọi không gian kiến trúc êm ả, ấm cúng toát ra từ những ngôi nhà vườn hợp thành môi trường sống độc đáo từ bao đời nay, gắn bó với bao thế hệ con người trong một làng quê bé nhỏ xinh xắn, với cây đa, bến nước, sân đình, những hàng rào chè tàu, vườn cây mít, hồng xiêm và cả một số loài hoa, cây cảnh nên thơ. Trong làng vẫn còn nhiều cây cổ thụ, đặc biệt cây thị hơn 500 năm tuổi. Quanh làng có lũy tre xanh cho chúng ta bức tranh hoàn chỉnh về làng quê truyền thống đậm bản sắc Việt Nam còn lưu giữ được đến ngày nay.

Giá trị kiến trúc, thẩm mỹ được thể hiện rõ nét nhất là ở các công trình kiến trúc tín ngưỡng, công trình công cộng và nhà ở của dân làng. Đó là kiểu kiến trúc nhà vườn, nhà rường cổ đặc trưng ở miền Trung. Sự hiện diện của nhiều loại hình kiến trúc đã tạo nên sự đa dạng, phong phú, tạo nên nét đẹp cổ kính của một làng quê. GS. TS. KTS Hoàng Đạo Kính đã nhận xét: “Sự hiện hữu của các thể loại công trình tín ngưỡng và tôn giáo ở làng Phước Tích có thể là điển hình cho các làng quê vùng Bắc Trung bộ, song trong sự so sánh với các làng quê cổ truyền trên toàn quốc và nhất là ở giai đoạn hiện nay thì Phước Tích quả là một hiện tượng hiếm hoi về phương diện này”.

Tham quan và trải nghiệm nghề gốm:

Nghề gốm Phước Tích đã ra đời cách đây gần 500 năm, đã có thời kỳ phát triển mạnh mẽ vào thế kỷ XVIII - XIX và những thập niên đầu của thế kỷ XX, có lúc làng Phước Tích có đến 13 lò sấp và 20 lò ngửa, với một khoảng đất hẹp, người ít, hoạt động ấy hẳn rất sống động. Trong ký ức người dân ở đây, điều đáng ghi nhớ nhất của họ là những chiếc ngọc oa ngự dụng (om ngự), mà người dân Phước Tích gọi là om cồi của vua. Đây là loại sản phẩm mà triều đình nhà Nguyễn đặt riêng để nấu cơm cho vua, các lão thợ chuyên trách phải dùng loại đất sét tốt nhất, nắn chuốt trên một bàn riêng, phơi kẻ trên một vị trí đặc biệt. Mỗi năm 2 lần người trong làng dùng thuyền đưa các om ngự lên kinh thành Huế.

Đến giữa thế kỷ XX, do ảnh hưởng bởi chiến tranh cùng sự phát triển của những sản phẩm gia dụng sản xuất bằng nhựa, nhôm... gốm Phuớc Tích bước vào giai đoạn sa sút, lụi tàn. Sau năm 1975, đất nước thống nhất, Đảng và nhà nước tổ chức lại các tập đoàn sản xuất, tiến lên thanh lập hợp tác xã, người dân Phước Tích cho rằng lò gốm ở giai đoạn này tuy có giảm nhưng quy mô lại tăng, những người có tâm huyết quyết tâm khôi phục lại nghề truyền thống của quê hương như ông Lê Trọng Ngữ và một số người khác... đã thành lập ban vận động, thành lập tổ sản xuất gốm, quyên góp kinh phí, xây dựng lại một lò sấp (lò cóc), là loại lò được đắp bằng đất dỏ, có hình của nửa khối ống rỗng úp lên mặt đất, ống thông hơi cuốn, gọi là lỗ đạo, thành lò có cửa để chuyển sản phẩm nói chung vô gia, cũng như để đun củi (căn cứ trên kích thước của lò, lò sấp chia làm 3 loại: lò cóc, lò thanh và lò nậy. Sản phẩm giai đoạn này gồm những đồ gốm cổ truyền như lu, đôộc, âu, chậu, hủ, tô...(chủ yếu là đồ đựng) đồ làm ra bán khá chạy.

Năm 1977, xây dựng thêm một lò thanh, quy mô lớn hơn lò cóc, sản phẩm làm ra bán rất chạy, một tháng đốt ba phiên lò thanh, một phiên lò cóc. Đến 1983, cùng sự phát triển thành lập hợp tác xã gốm Phước Tích, được sự hỗ trợ của UBND tỉnh Bình Trị Thiên và UBND huyện Hương Điền, những người thợ gốm Phước Tích đã ra học hỏi kỹ thuật và xây dựng một lò bao theo kỹ thuật của lò gốm Hương Canh (Hà Tĩnh), do lò xây không đạt kỹ thuật, gốm sản xuất ra không được thị trường chấp nhận.

Năm 1989, với nỗ lực học hỏi, những người thợ gốm Phước Tích đã vào học kỹ thuật làm lò bầu của làng gốm Lái Thiêu (tỉnh Sông Bé cũ), đã sản xuất ra loại gốm tráng men, nhưng những sản phẩm làm ra từ loại lò này cũng không đảm bảo đời sống của người dân, trước sự cạnh tranh của thị trường tiêu thụ. Do tác động của nhiều nguyên nhân khác nhau, cuối cùng hợp tác xã sản xuất gốm Phước Tích phải giải thể (năm 1989), những chiếc lò bị bỏ hoang và hư hại theo thời gian.

Đến năm 2006, với nỗ lực khôi phục lại nghề gốm, được sự hỗ trợ của UBND huyện Phong Điền, người dân Phước Tích lại ra làng gốm Bát Tràng (Hà Nội), xây dựng một lò gốm mới và sản xuất ra loại gốm tráng men. Hiện nay khu vực lò gốm có:

+ Một lò sấp mới được xây dựng năm 2006 để phục vụ Festival.

 + Một lò bao có trụ che lò, bảy bao lớn và một bao nhỏ.

+ Lò theo kiểu lò Hương Canh.

Đây là dấu tích kỷ niệm của một làng gốm xưa của người dân Phước tích.

Khi đến thăm di tích lò gốm tại làng Phước Tích, du khách có thể tìm hiểu và trải nghiệm nghề nặn đất sét trên bàn xoay thành các sản phẩm, sau đó đem phơi và nung trong lò để chế tác thành các sản phẩm đồ gốm. Riêng các nghệ nhân, để thích hợp thị hiếu ngày nay, họ còn chế tác các sản phẩm mới hiện đại.

Ngoài ra, đến Phước Tích du khách còn được tham quan và trải nghiệm những trò chơi dân gian truyền thống gắn liền với nghề gốm như bịt mắt nấu cơm niêu, bịt mắt đập om. Bên cạnh đó còn được tìm hiểu về quy trình tao nên những sản phẩm gốm nổi tiếng của làng như đạp đất, xên chuốt, phơi gốm, nung gốm. Đặc biết du khách được thỏa sức với tài năng của mình thông qua các trải nghiệm bắt tu huýt; vẽ trên gốm…

Làng Phước Tích đã được Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xếp hạng di tích lịch sử kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia tại Quyết định số 832/QĐ-BVHTTDL ngày 03 tháng 3 năm 2009.

Tour tham quan VR 360

Sở Du lịch thành phố Huế (Tổng hợp)

Tin liên quan

Điểm du lịch Cầu ngói Thanh Toàn
Nông thôn
Điểm du lịch Cầu ngói Thanh Toàn

Cầu ngói Thanh Toàn là chiếc cầu bằng gỗ được kiến trúc theo kiểu “Thượng gia, hạ kiề...

Điểm du lịch cộng đồng Ngư Mỹ Thạnh
Nông thôn
Điểm du lịch cộng đồng Ngư Mỹ Thạnh

Điểm du lịch cộng đồng Ngư Mỹ Thạnh, thuộc xã Đan Điền, thành phố Huế (cách trung tâm...

Điểm du lịch Nhà vườn Lương Quán - Nguyệt Biều
Nông thôn
Điểm du lịch Nhà vườn Lương Quán - Nguyệt Biề...

Lương Quán - Nguyệt Biều thuộc phường Thủy Biều, thành phố Huế (Nay là phường Thủy Xu...

Điểm du lịch sinh thái cộng đồng làng A Nôr
Nông thôn
Điểm du lịch sinh thái cộng đồng làng A Nôr

Điểm du lịch sinh thái cộng đồng A Nôr có diện tích khoảng 7ha. Phong cảnh tuyệt đẹp ...